Phương pháp xác định tuổi sinh học

Cẩm nang chăm sóc trẻ
Xác định tuổi sinh học phải sử dụng các mô hình toán học khác nhau và bộ các test, ưu và nhược điểm của mỗi phương pháp hãy còn là vấn đề bàn cái.
Các tác giả thường dùng các test say đây: điều tiết mắt, (điều tiết nhân mắt), cảm ứng xúc giác, thính lực (dưới 4000Hz), huyết áp tâm thu, dung tích sống, lực bóp tay, test wechsler ký hiệu – chữ số, tốc độ sóng mạch.
Trong các phần trên đã đề cập tới: để xác định tuổi sinh học phải sử dụng các mô hình toán học khác nhau và bộ các test, ưu và nhược điểm của mỗi phương pháp hãy còn là vấn đề bàn cái. Tuy nhiên một trong những yêu cầu lớn nhất là phải thoả mãn được tính phúc tạp của phương pháp và yêu cầu giản đơn hoá tối đa có thể được để giúp cho nghiên cứu một số lượng lớn dễ dàng, giúp cho điều tra cơ bản (nghiên cứu dịch tễ học), cho khám ngoại trú…Để đáp ứng với yêu cầu đó Viên Lão khoa Kiev thuộc Viện Hàn lâm y học Liên Xô (trước đây) đã đưa ra một trong các phương pháp xác định tuổi sinh học dựa trên cơ sở phép đa hồi quy tuyến tính (V.P Voitenko, A.V.Tokar, A.M.Polyukhov, 1984, 1991). Xác định tuổi sinh học có 4 cách tuỳ theo tính chất phức tạp và khối lượng lao động.
Cách 1: phức tạp nhất, đòi hỏi trang thiết bị chuyên biệt, thường được thực hiện ở các trung tâm y tế lớn, phòng khám hiện đại.
Cách 2: kém đồ sộ hơn nhưng cũng đòi hỏi có trang thiết bị hiện đại, chuyên biệt.
Cách 3: dựa vào các chỉ số khá thông thường, mức độ thông tin của nó trong chừng mực nhất định được tăng lên do đo dung tích sống.
Cách 4: không đòi hỏi sử dụng trang thiết bị chẩn đoán, có thể thực hiện ở mọi điều kiện.
Các chỉ số và bo test cần thiết để xác định tuổi sinh học
Huyết áp tâm thu (Has) và huyết áp tâm trương (Had) được xác định theo phương pháp phổ biến nhờ huyết áp kế thuỷ ngân, trên tay phải, tư thế ngồi, đo 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 phút, lấy kết quả của lần đo có trị số thấp nhất. Huyết áp hiệu số hay huyết áp phân biệt (HA dif) tính bằng hiệu số giữa Has và Had.
Tốc độ dẫn truyền sóng mạch theo động mạch, được ghi theo phương pháp đa ký (ghi đồng thời cả tiếng tim, điện tim, mạch đồ…). Đo tốc độ dẫn truyền sóng mạch phần: động mạch cảnh – động mạch bẹn (Vcf), động mạch cảnh – động mạch quay (Vcr),(arteria radialis). 
Dung tích sống được đo ở tư tế ngồi, được tiến hành sau khi ăn 2 giờ trên máy “spirotron” hoặc máy tương đương.
Thời gian nhịn thở tối đa sau khi hít vào sâu (NTv) và thở ra hết (NTr), mỗi thứ làm 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 phút, theo dõi kết quả nhờ đồng hồ bấm giây. 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *