Công thức tính tuổi sinh học

Cẩm nang chăm sóc trẻ
Tính số lượng chung những câu không thuận lợi (con số có thể có từ không (0) đến (29) và đó là giá trị mà ta đưa vào công thức để tính tuổi sinh học.
Ông (bà) hay có cảm giác kim châm, tế bì, kiến bò trên da không?
Ông (bà) có lúc nào cảm thấy rất sung sướng, hạnh phúc không?
Ông (bà) có hay bị ù tai hoặc ve kêu trong tai không?
Ông (bà) có dự trữ sẵn một số thuốc như: seduxen, nitroglyxerin, trợ tim trong nhà không?
Ông (bà) có khi nào bị phù hai chân không?
Ông (bà) có phải kiêng món ăn nào không?
Ông (bà) có thấy khó thở khi đi nhanh không?
Ông (bà) có hay bị đau vùng thắt lưng không?
Ông (bà) có dùng một loại nước khoáng nào với mục đích điều trị không?
Ông (bà) có thường thấy mùi vị khó chịu trong miệng không?
Ông (bà) có thấy bây giờ mình dễ khóc hơn trước không?
Ông (bà) tự xếp sức khỏe của mình vào loại nào tốt, bình thường, kém, rất kém?
Bản tự đánh giá sức khỏe (ĐGSK) được in theo mẫu đã quy định và phát cho từng đối tượng nghiên cứu, người đó phải gạch dưới từng câu trả lời 28 câu trên cùng trả lời với khả năng “có” hoặc “không” (có nghĩa là gạch dưới hoặc vòng chữ “có” hoặc “không” lại). Những gì không thuận lợi được trả lời là “có” trên các câu từ 1-8, 10-12, 14-18, 20-28 và trả lời “không” trên các câu hỏi 9,13,19. Đối với câu hỏi 29 có thể có những khả năng trả lời như trên – kém và rất kém được coi là không thuận lợi. Sau khi đối tượng đã hoàn thành việc trả lời các câu hỏi, ta tính số lượng chung những câu không thuận lợi (con số có thể có từ không (0) đến (29) và đó là giá trị mà ta đưa vào công thức để tính tuổi sinh học.
Trên cơ sở phương trình đa hồi quy tuyến tính ta có: là thành phần tự do của phương trình X là giá trị của thông số thứ nhất sử dụng để xác định tuổi sinh học, K là hệ số cần phải nhân với thông số thứ nhất; X giá trị của thông số thứ hai được dùng để xác định tuổi sinh học, K là hệ số phải nhân với chỉ số đó; giá trị của thông số thứ n được sử dụng để xác định tuổi sinh học, là hệ số cần phải nhân với thông số.
Đáng giá ý nghĩa tuổi sinh học về mặt cá thể
Nhờ những công thức đã nói trên chúng ta có thể tiến hành tính giá trị tuổi sinh học cho từng cá thể. Để biết mức độ lão hoá so với tuổi theo lịch của đối tượng nghiên cứu, ta tiến hành so giá trị tuổi sinh học thuộc cá thể với tuổi sinh học chuẩn (TSHc) (trung bình). Tuổi sinh học chuẩn là hằng số nhịp độ lão hoá thuộc quần thể (người ta cũng gọi tuổi sinh học trung bình của một nhóm tuổi nào đó).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *